thuy sang 13jan02
Thủy sản đứng thứ ba về kim ngạch xuất khẩu
Sau 3 năm thực hiện chương tŕnh phát triển xuất khẩu thủy sản (1999-2001), kim ngạch xuất xuất khẩu mặt hàng này hiện chiếm khoảng 40% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu nông-lâm-ngư nghiệp và vươn lên vị trí thứ 3 về kim ngạch xuất khẩu trong các ngành kinh tế của cả nước.Năm 2001, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này đạt 1,76 tỷ USD, tăng gấp 2 lần so với trước khi thực hiện chương tŕnh và mục tiêu xuất khẩu 2 tỷ USD của chương tŕnh có khả năng hoàn thành trước 3 năm. Cơ cấu thị trường xuất khẩu thủy sản có sự thay đổi lớn, Mỹ đang là nước nhập khẩu nhiều nhất hàng thủy sản Việt Nam với 28%. Chương tŕnh này đă tạo đầu ra và nền tảng vững chắc cho phát triển sản xuất nguyên liệu, kích thích mạnh mẽ việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn. Mục tiêu hàng đầu của chương tŕnh là tăng diện tích và sản lượng nuôi trồng thuỷ sản. Năm qua, diện tích nuôi trồng thủy sản đạt trên 1 triệu ha, tăng hơn 74% so với trước khi thực hiện chương tŕnh. Sản lượng nuôi trồng và khai thác nội địa đạt 879.000 tấn, tăng hơn 48%. Nuôi trồng thủy sản đă trở thành nghề sản xuất phổ biến trong cả nước, chiếm vị trí quan trọng. Phát biểu tại hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện chương tŕnh phát triển xuất khẩu thuỷ sản tổ chức tại Hà Nội ngày 10/1, Phó thủ tướng Nguyễn Công Tạn đánh giá rằng chương tŕnh xuất khẩu thuỷ sản là thành công nhất trong các chương tŕnh điều hành của Chính phủ mấy năm qua. Phó Thủ tướng đặc biệt lưu ư ngành Thủy sản cần thực hiện tốt 3 việc lớn trong năm 2002 là sản xuất đủ con giống tốt cung cấp cho nuôi trồng thuỷ sản, không để dịch bệnh lớn xẩy ra trong nuôi trồng thuỷ sản, phát triển thị trường để đạt giá trị kim ngạch xuất khẩu từ 2 tỷ USD trở lên. (TTXVN)
Kim ngạch xuất khẩu thủy sản sẽ tăng tỷ trọng trong cơ cấu nông- lâm- ngư nghiệp
Trong cơ cấu nông-lâm-ngư nghiệp, ngành thủy sản phải tăng tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu, Thủ tướng Phan Văn Khải đă chỉ thị như vậy tại Hội nghị bàn biên pháp thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xă hội năm 2002 vừa diễn ra tại Hà Nội ngày 11/1/2002. Để phát triển kinh tế thủy sản, Thủ tướng nêu lên những việc cơ bản phải làm là nâng cao chất lượng sản phẩm bằng các biện pháp như phát triển công nghệ, xây dựng chợ cá; t́m cách giữ vững thị trường đă có và phát triển thị trường mới bằng cách xây dựng quĩ hỗ trợ xuất khẩu hàng thủy sản, thuê tư vấn; nghiên cứu phát triển giống thủy sản đặc biệt là cho các tỉnh phía Bắc v́ hầu hết ở đây mới nuôi thủy sản được có 6 tháng/năm, c̣n các tỉnh phía Nam đă nuôi được quanh năm...Ngành thủy sản đề ra mục tiêu năm 2002 sẽ khai thác được 2,3 triệu tấn thủy sản, trong đó sản lượng thu hoạch từ khai thác tự nhiên là 1,35 triệu tấn, c̣n lại là thu hoạch từ nuôi trồng và kim ngạch xuất khẩu đạt từ 2-2,1 tỷ USD.
Năm
2002, ngành thực hiện nhiều biện pháp như ưu
tiên công tác qui hoạch lên hàng đầu; đổi
mới công tác quản lư nghề cá, trọng tâm là công tác
thống kê nghề cá, quản lư nguồn lợi và
quản lư an toàn vệ sinh khu vực sản xuất nguyên
liệu; đẩy mạnh hợp tác Quốc tế và
hội nhập, phát triển thị trường, xúc
tiến thương mại; phát triển mạnh nuôi
trồng thủy sản theo hướng đa dạng hóa
sản phẩm nuôi và tiếp tục đây mạnh khai thác
hải sản xa bờ, ổn định khai thác vùng
gần bờ, bảo vệ và tái tạo nguồn lợi
thủy sản; đẩy mạnh đầu tư xây
dựng cơ sở hạ tầng, trong đó ưu tiên xây
dựng hạ tầng cơ sở thủy lợi phục
vụ cho nuôi trồng thủy sản, hệ thống
cảnh báo môi trường, hệ thống thông tin liên
lạc...Năm 2001, kim ngạch xuất khẩu thủy
sản đạt 1,76 tỷ USD, chiếm tỉ trọng trên
40% trong cơ cấu nông-lâm-ngư nghiệp. Sản lượng
khai thác đạt trên 2,2 triệu tấn tăng trên 11% so
với năm 2000. Trong đó sản lượng thu
hoạch được từ khai thác tự nhiên đạt
trên 1,3 triệu tấn, c̣n lại là thu hoạch từ nuôi
trồng.
Ngành đă triển khai nuôi thủy sản trên diện tích
879.000 ha, tăng trên 36% so với năm 2000. Cả nước
hiện có 4.177 cơ sở sản xuất giống
thủy sản và 64 cơ sở sản xuất thức
ăn phục vụ nuôi trồng thủy sản. Năm
qua, thực hiện chính sách chuyển dịch cơ
cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông
nghiệp, các địa phương đă chủ động
thực hiện chuyển đổi vùng đất
nhiễm mặn trồng lúa, làm muối, trồng cói có
hiệu quả thấp sang phát triển nuôi trồng
thủy sản, diện tích chuyển đổi trong
cả nước tổng cộng là trên 220.000 ha. Phương
thức nuôi cũng đă chuyển mạnh sang nuôi bán thâm
canh, thâm canh và nuôi công nghiệp, nhiều tỉnh nuôi tôm
có năng suất b́nh quân cao từ 1,5-18 tân/ha như Đà
Nẵng, Phú Yên, Quảng Ngăi, Khánh Ḥa. Trong khai thác
thuỷ sản tự nhiên, ngành ổn định việc
khai thác gần bờ và tiếp tục đẩy mạnh
chương tŕnh khai thác hải sản xa bờ. Năm
qua, sản lượng khai thác hải sản xa bờ
ước đạt 456.000 tấn, tăng 8,57% so với năm
2000, trong đó sản phẩm xuất khẩu chiếm
gần 30%. Một số tỉnh có sản lượng khai
thác hải sản xa bờ lớn là Kiên Giang, Bà Rịa-
Vũng Tàu, B́nh Định, Bến Tre, Bạc Liêu, Khánh Ḥa...
Năm 2001, toàn ngành có 78.978 tàu với tổng công
suất trên 3,7 triệu Cv, trong đó có trên 6.000 chiếc
tàu có khả năng khai thác hải sản xa bờ. Hàng
thủy sản Việt Nam ngày càng chiếm được
vị trí khá vững chắc tại nhiều thị trường,
kể cả những thị trường có yêu cầu cao
về chất lượng như Eu, Bắc Mỹ và
Nhật Bản. Cả nước hiện có 61 doanh
nghiệp được vào danh sách 1 xuất khẩu
trực tiếp vào thị trường Eu. Về thị trường
xuất khẩu, năm 2001 thị trường Mỹ
lần đầu tiên đứng đầu với 500
triệu USD, chiếm 28,4% thị phần; tiếp đến
là Nhật Bản đạt gần 471 triệu USD; thị
trường Trung Quốc và Hồng Kông đạt 299
triệu USD; thị trường Eu đạt 90 triệu.
(TTXVN)
Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu thủy sản An Giang (Agiffish) đang chuẩn bị đưa ra thị trường một sản phẩm mới: bánh phồng ba sa. Sản phẩm được sản xuất theo phương pháp của bánh phồng tôm nhưng nguyên liệu tôm được thay thế bằng cá ba sa và cá tra, với hàm lượng cá trong bánh chiếm khoảng 20%. Cùng với sản phẩm mới này, Agiffish cũng sẽ đưa ra thị trường các sản phẩm chế biến từ cá tra và cá ba sa như khô cá ăn liền, chà bông, cá kho tộ, cá hun khói, xúc xích...theo giám đốc Agiffish Ngô Phước Hậu, công ty đă đầu tư nghiên cứu các mặt hàng mới này nhằm đưa sản phẩm cá tra, cá ba sa thâm nhập tốt hơn ở thị trường trong nước vốn chưa biết nhiều đến sản phẩm xuất khẩu nổi tiếng này. (TT, 12-1-2002)